Suy tư cầu nguyện và tĩnh tâm Kit-ô Giáo

23 min read

Tĩnh tâm được định nghĩa là một loại rèn luyện trí năng cho việc tập trung có mục đích, hoặc là tập trung vào một đối tượng (suy niệm quy ý), hoặc để cho ý tưởng  trôi theo bất kỳ đối tượng nào mà bản thân đang cảm nghiệm (suy niệm tán ý). Nó bao gồm cả việc thư giãn cơ thể, tĩnh lặng tâm linh, vượt qua những suy nghĩ lan man, và quy hướng vào trong nội tâm. Khách quan mà nói, tĩnh tâm thường giúp bạn đi sâu vào trạng thái nhận thức, để cảm nghiệm về bản thân bạn vượt xa tầm nhìn của trí năng, để thấy “sự vật như chúng đang hiện hữu”.

Tĩnh tâm là một kiểu thực hành suy niệm, hiểu theo phạm trù ngoại diên. Có nhiều kiểu tĩnh tâm, như cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng, và khải thị. Trong bài viết này, tác tìm hiểu về thực hành chiêm niệm nằm trong truyền thống Kitô Giáo. Một số thần học gia phân tách giữa chiêm niệm và cầu nguyện, nhưng một số khác thì không làm thế; với các thần học gia phân tách, họ định nghĩa chiêm niệm như là cách thế quy hướng nội tâm, còn cầu nguyện là cách thế hướng đến ngoại thể.

Khi bạn cầu nguyện, hãy đóng cửa lại; nghĩa là đóng cửa các giác gian lại. Đóng giác quan khỏi các ảo ảnh và hình tượng. Không gì làm hài lòng Thiên Chúa cho bằng một tâm hồn thanh thoát khỏi mọi ràng buộc và quyến luyến. Đó là dạng tâm hồn đang được chuyển hoá vào trong Thiên Chúa, một tâm hồn không nghĩ, không hiểu và không yêu một điều gì khác ngoài chính Thiên Chúa. Ai tự thấu hiểu chính mình và siêu việt chính mình, người đó thực sự thăng lên tới Thiên Chúa – Albert Magnus (tác phẩm “tổ phụ của huyền nhiệm Ki-tô Giáo”). 

Trong truyền thống Đông Phương (Ấn Giáo, Phật Giáo, Kỳ Na Giáo, Đạo Giáo), tĩnh tâm thường là cách thức thực hành với mục đích siêu thoát tâm trí và đạt được sự khai mở (giác ngộ). Trái lại, trong truyền thống Ki-tô Giáo, mục đích của tĩnh tâm có thể là thanh luyện đạo hạnh và đào sâu hiểu biết về Kinh Thánh; hay thân mật hơn với Thiên Chúa/Đức Ki-tô, theo như truyền thống huyền nhiệm của đạo.

Bạn có thể tìm mua và tham khảo cuốn Cầu Nguyện Theo Truyền Thống Kitô Giáo của Linh mục Đan Sĩ Gioan Lê Chúng

Các hình thức thực hành tĩnh tâm Ki-tô Giáo được tìm hiểu trong bài này gồm:

  • Chiêm niệm cầu nguyện — diễn tả cách thức cầu xin trong thinh lặng với những thánh từ hoặc thánh ngôn, chú trọng vào việc hiến dâng.
  • Đọc và suy nhiệm — đơn giản là “suy niệm”, một cách thức đào sâu suy tư về những bài giảng và các sự kiện trong Kinh Thánh.
  • “Ngồi với Chúa” — một dạng tĩnh tâm thinh lặng, thường khởi đầu bằng chiêm niệm hoặc đọc sách thánh, rồi ta tập trung toàn bộ tâm tư tình cảm để cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa.

Tuy khác biệt về tâm tìnhthế giới quan, nhưng cơ chế của chiêm niệm cầu nguyện gần tương tự với thiền định mantra của Ấn Giáo, và ngồi với Chúa gần giống như cách thế thiền định của bhakti yoga.

Đọc và suy niệm” thì gần như là cách thức chiêm niệm, chứ không phải là cách thức tĩnh tâm, bởi vì đó là cách dùng nhiều suy nghĩ và lập luận phân tán. Dù gì đi nữa, chúng ta nên biết rằng, trước khi các ngành nghiên cứu triết học Đông Phương phổ biến ở phương Tây (khoảng thế kỷ 19), thì từ “tĩnh tâm” được dùng đồng nghĩa với từ “chiêm niệm”, và vì thế cách thực hành đọc và suy nhiệm thường được gọi giản lược thành “tĩnh tâm”.

Không giống như các kỹ thuật tĩnh tâm khác, không cần đến bất kỳ niềm tin nào, cách thức tĩnh tâm được trao đổi trong bài này giả định rằng bạn là một người có niềm tin và thế giới quan Ki-tô Giáo, và tất cả đặt nền tảng trên Kinh Thánh.

Các cách thực hành được trình bày ở đây có lẽ sẽ không hài lòng tất cả các tín hữu Kit-tô Giáo. Nhưng thế giới có hơn 41,000 giáo phái Ki-tô, nhiều nhóm trong số này hoàn toàn bất đồng với nhóm khác về những điểm cơ bản, nhưng tựu chung tất cả đều tin rằng giáo lý của họ là đúng nhất trong việc giải thích các bài giảng huấn của Chúa – thế mới nói, thật là tai hại cho việc hiểu lời Đức Ki-tô nếu chỉ hiểu bằng tâm tư của riêng bạn.

Hãy lặng yên và hãy biết rằng Ta là Đức Chúa. (TV 46:10)

1) TĨNH TÂM KIỂU CHIÊM NIỆM CẦU NGUYỆN

Tĩnh tâm kiểu chiêm niệm cầu nguyện hiện nay

Trào lưu này có hai nhánh. Một nhánh tập trung vào cầu nguyện – được biết đến dưới hình thức lắng nghe và cầu nguyện hoặc cầu nguyện qua hơi thở , phương thức này gắn với nhóm các tu sĩ Luyện tâm (nhánh canh tân của Dòng Xi-tô thành lập năm 1664 tại tu viện La Trappe ở Normandy nước Pháp). Nhánh còn lại gọi là Thiền định Ki-tô Giáo, được sáng tạo bởi tu sĩ John Main dòng Benedictine Ái nhĩ Lan, ông này đã học được thiền định mantra từ một bậc thầy Ấn Giáo trong thời gian ông phục vụ tại Malaysia.

Cách thực hiện:

  • Chọn một từ thánh thiêng trong truyền thống Ki-tô Giáo như Chúa, Chúa Cha, Chúa Giê-su, Mẹ Maria, Lạy Cha, Xin Thương Xót, Tình Yêu. Thường người ta chọn từ gốc ngôn ngữ Aramaic: maranatha (“Lạy Chúa, Xin hãy đến”).
  • Trong khoảng 10 đến 30 phút, lập lại liên tục từ thánh thiêng đó. Không nên lặp lại cách máy móc, mà cần tập trung cả mọi cảm xúc. Mỗi lần lặp lại được thực hiện như một lời cầu nguyện.
  • Khi có những ý tưởng hoặc cảm xúc khác lạ ùa đến, nhớ phải đem tâm trí về lại với từ thánh thiêng đã chọn.

Cách thực hành của John Main đòi hỏi người tĩnh tâm phải liên tục lặp lại từ thánh thiêng đã chọn trong suốt buổi tĩnh tâm. Theo ông, người luôn biết đặt tâm trí vào từ thánh thiêng đó, sẽ không lo nghĩ gì đến các ý nghĩ hoặc cảm xúc ngoại lai. Theo cha Keating, trong thời điểm tâm trí đạt thanh tịnh, thì không nhất thiết phải niệm lại từ thánh thiêng nữa.

Tham khảo thêm về Lectio Divina dưới đây.

Tĩnh tâm lối truyền thống Chính Thống Giáo Đông Phương Hesychasm

Chân dung tĩnh tâm của một đan sĩ Chính Thống Giáo

Một dạng thức khác của Chiêm niệm cầu nguyện được gọi là Hesychasm, hay Cầu nguyện với Đức Giê-su. Dạng thức này khởi đầu từ thời các Giáo phụ sa mạc, là các đấng sống nhiệm nhặt và khổ hạnh trong buổi sơ khai của Ki-tô Giáo. Nguyên gốc bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp hesychia, nghĩa là sự “thinh lặng” hay sự “an tĩnh”. Dạng thức này thực hành lặp lại những từ hoặc những câu thánh thiêng ngắn. Nó bắt nguồn từ các giáo hội Chính thống Đông phương và lễ nghi Byzantine Công Giáo. Các tu sĩ Hy Lạp vẫn thực hành cầu nguyện hàng giờ với cách thức này.

Trường phái này chuyên chú vào nhu cầu sống đời cô tịch và loại bỏ cảm quan, để nhờ đó có thể trực tiếp kết hiệp với thần linh và ở lại trong Ngài. Những ảnh hưởng đầu tiên của lối thực hành này chính là tu sĩ Benedict vùng Nursia, vào thế kỷ thứ 5 đã thành lập đời sống đan tu ở Phương Tây. Khẩu hiệu của vị này là ora et labora (cầu nguyện và làm việc). Một ảnh hưởng khác chính là Đức Giáo Hoàng Evagrius Ponticus và John Cassian.

Cách thức thực hành tương tự như cầu nguyện tập trung của thiền định Ki-tô Giáo của John Main (được hướng dẫn ở trên). Khác biệt chính yếu là câu kinh được chọn để cầu xin, và sâu xa hơn là khác biệt về ý từ thần học đằng sau lối thực hành này. Ở đâyt, cũng đặc biệt hướng dẫn cách kết hợp hơi thở với lời cầu nguyện.

Cách thực hiện:

  • Chọn môt câu được gợi ý. Những câu được yêu thích thường là: “Lạy Chúa tôi, xin nhanh tay cứu vớt tôi. Lạy Chúa, xin mau chóng trợ giúp tôi.” và “Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.
  • Trong khoảng 10 đến 30 phút, lặp lại câu thánh thiêng này. Không nên lặp lại cách máy móc, mà cần tập trung cả mọi cảm xúc. Mỗi lần lặp lại được thực hiện như một lời cầu nguyện.
  • Hoà lẫn lời cầu xin với hơi thở của bạn. Giả như khi hít vào thì nói “Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, ” và khi thở ra thì hoàn thành vế sau của câu này xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.
  • Trong khi lặp lại những lời cầu nguyện này, bạn cũng cảm thấy nhịp thở vào ra từ tim bạn. Nó giúp bạn nối kết được điều đó.
  • Khi có những ý tưởng hoặc cảm xúc khác lạ ùa đến, nhớ phải đem tâm trí về lại với từ thánh thiêng đã chọn.
  • “Cầu nguyện không ngừng nghỉ” – cố gắng duy trì lặp lại lời cầu xin ngay cả khi làm bất kỳ việc gì trong suốt ngày sống của bạn.

Tĩnh tâm theo hình thức Lectio Divina

Mô phỏng tĩnh tâm Lectio Divina của một đan sĩ

Lectio Divina theo nghĩa đen là “lời thần linh” hay “thần đọc”. Cách này chọn một đoạn ngắn kinh thánh, nhớ kỹ, sau đó lặp lại cách thinh lặng trong vài phút. Suốt buổi thực hành, ta cho phép bất kể ý tưởng, suy tư và hình ảnh liên quan tới đoạn kinh thánh đó nổi lên trong óc chúng ta. Đây là cách thức nằm ở giữa lối đọc và suy niệm với chiêm niệm cầu nguyện.

Trong khi cầu xin cách thinh lặng, nhiều người cho nổi lên hình ảnh đời sống Đức Giê-su, hay hình ảnh cụ thể của những câu chuyện trong Kinh Thánh, để tạo ra những kinh nghiệm thiết thân hơn. “Linh Thao” của thánh I-nhã Loyola gần như làm việc theo phương thức này, và cũng thống nhất với nhiều yếu tố khác.

Nhiều người lại thích trích dẫn từ những tác phẩm nổi tiếng của các vị thánh, như những bài thi ca của thánh Gioan Thánh Giá.

Chiêm niệm là một hiểu biết đơn giản về Thiên Chúa, trực tiếp sinh ra trong linh hồn bởi Thiên Chúa và làm cho linh hồn đạt được một nhận biết huyền bí sâu sắc về Thiên Chúa một cách trực tiếp, tuy vẫn còn mờ tăm tối. (Thomas Merton)

2) TĨNH TÂM KIỂU ĐỌC VÀ SUY NIỆM

Tĩnh tâm bằng uy niệm về các bài giảng huấn

Bằng cách suy niệm và trong suy niệm, tôi kết nối lý trí với sự hiểu biết. Chúng ta bắt đầu bằng việc suy tư về ân sủng Chúa đã ban cho chúng ta qua Người Con Một mà Ngài đã ban xuống cho chúng ta; và chúng ta không dừng lại đó nhưng tiếp tục suy tư về huyền nhiệm trong suốt cuộc đời vinh quang của Ngài. (Teresa of Avila)

Kinh Thánh đề cập tới suy niệm hoặc việc suy niệm khoảng trên 20 lần, đa phần nằm ở trong sách Thánh Vịnh. Ý nghĩa miêu tả việc suy niệm, trong Kinh Thánh, là việc trầm tư, suy xét, nghiền ngẫm. Ví dụ, trong sách Joshua 1:8: “Đừng để cho Sách Luật rời khỏi miệng con; hãy suy ngẫm về nó ngày và đêm.”

Bởi vậy, cách thức suy niệm này gắn liền với đọc Kinh Thánh, hay những câu chữ từ sách vở của các thánh nhân Ki-tô Giáo, và ngẫm nghĩ sâu xa về ý nghĩa của mỗi một từ ngữ trong đó. Như từ điển Wikipedia diễn tả, đó là cách thức “tiến hành tập trung cách kỹ càng vào một suy tư cụ thể nào đó (như là một đoạn kinh thánh) và nghiền ngẫm ý nghĩa của đoạn văn trong khung cảnh là tình yêu của Thiên Chúa.” Do đó, nó vận dụng những chức năng của lý trí, hình ảnh nhắm tới nâng cao mối tương quan nhân vị đặc trưng của kết hiệp Ki-tô Giáo, dựa trên nền tảng là tình yêu của Thiên Chúa.

Rick Warren, trong cuốn “The Purpose Driven Life” (Zondervan), mô tả suy niệm theo cách sau: “Suy niệm tập trung vào suy tư. Nó đòi hỏi nỗ lực kinh khủng. Bạn chọn một đoạn Kinh và nghiền ngẫm đi lại về điều đó trong tâm tư của bạn…. nếu bạn biết thế nào là lo lắng, thì bạn biết thế nào là suy niệm. (…) Không có thói quen nào biến đổi cuộc sống của bạn và làm cho bạn nên giống Đức Giê-su hơn là cách nghiền ngẫm Kinh Thánh mỗi ngày. (…) Nếu toàn bộ thời gian bạn tìm kiếm điều Thiên Chúa phán dạy bằng suy niệm Kinh Thánh, bạn sẽ kinh ngạc về ích lợi Ngài đã hứa ban cho ai dùng thời giờ cả ngày của họ để nghiền ngẫm về Lời của Ngài.”

Tĩnh tâm theo Linh Thao của thánh I-nhã Loyola

Một cách thức lao nhọc và cao cấp hơn trong việc đọc và suy niệm là những bài tập mang tính hình ảnh trong Tập Linh Thao của thánh I-nhã Loyola. Toàn bộ các bài tập kéo dài hơn kém 30 ngày và thường kèm theo hoạt động trao đổi thiêng liêng với vị linh hướng. Tiến trình bắt đầu bằng việc suy xét mục đích của cuộc đời và mối tương quan của ta với các loài thụ tạo còn lại. Tuần tiếp theo là suy niệm về tội và hậu quả của tội. Tiếp nối là thời kỳ suy niệm về các sự kiện trong cuộc đời của Đức Giê-su, về cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài. Tuần cuối cùng là cảm nghiệm về niềm vui phục sinh, và kết thúc bằng bài suy ngẫm về tình yêu Thiên Chúa và đáp trả cho tình yêu của Thiên Chúa. Các bài tập thường gợi lên hình ảnh là chính hình ảnh trong Kinh Thánh mà người làm linh thao sẽ bước vào.

Trong các bài tập, những chỉ dẫn hằng ngày tổng hợp nhiều loại suy niệm, chiêm niệm về bản chất của thế giới, về tâm lý con người theo như thánh I-nhã hiểu và về tương quan giữa con người với Thiên Chúa qua Đức Giê-su Ki-tô. Qua các bài tập mỗi ngày, mỗi một thao viên sẽ cầu nguyện với một bài tập riêng, được hướng dẫn bởi vị linh hướng, đánh giá từng bài cầu nguyện và theo đuổi 4 hoặc 5 giờ cầu nguyện, phản hồi lại cho vị linh hướng để vị này trợ giúp cho thao viên hiểu rõ ý nghĩa của từng kinh nghiệm cầu nguyện ứng với thao viên đó. Mục đích của các bài tập là để nghiền ngẫm về những kinh nghiệm của thao viên và hiểu xem làm thế nào đem cùng một kinh nghiệm đó áp dụng vào đời sống của mỗi thao viên.

3) TĨNH TÂM KIỂU NGỒI VỚI CHÚA 

Trong khi chìm sâu vào chiêm niệm cầu nguyện hoặc đọc và suy niệm, bạn có thể thấy mình rơi vào tình trạng an tĩnh chiêm niệm, nơi đó tâm trí lan man yên tĩnh lại, và xuất hiện một cảm thức sâu sắc về “hiện diện với Chúa” hay cảm giác hiện hữu “được bao bọc” hay hiện hữu bị xâm chiếm bởi tình yêu Thiên Chúa hoặc đại loại thế. Trong suy niệm tản mạn, trí não cũng như hình ảnh và các chức năng khác đều được vận dụng cách chủ động để gắng hiểu được tương quan giữa ta với Chúa. Trong an tĩnh chiêm niệm, việc này được bỏ đi, nhờ đó chiêm niệm được mô tả như là “một sự loé sáng của niềm tin”, hay “một tình yêu thinh lặng”.

Trạng thái chìm đắm vào thinh lặng cũng có thể được thực hành cách ý thức, bằng việc tập trung tất cả tâm trí và linh hồn vào trong việc suy tư về Thiên Chúa, và cảm nhận sự hiện diện khắp nơi của Thiên Chúa. Cách thức suy niệm này cũng gần tương tự như cách thức của người Á Châu – một loại gọi là “quán tưởng”, trong đó mọi thứ đều bị tống khứ ra ngoài, chỉ còn Thiên Chúa trong suy nghĩ và cảm xúc.

Kính mến Thiên Chúa là Chúa của ngươi hết tâm hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi.(Luca 10:27)

Thánh Teresa Avila nói về việc thực hành “hồi tưởng” (tương đồng với khái niệm pratyahara trong Yoga). Trong suy niệm của thánh nữ, ý hướng chủ đạo chỉ có một đối tượng duy nhất, cơ bản nhất là tình yêu của Thiên Chúa. Trong cuốn The Way of Perfection thánh nữ viết: “Tôi gọi đó là hồi tưởng bởi vì linh hồn tụ hợp cùng mọi chức năng để đi vào chính mình, rồi nhờ đó được hiện diện với Chúa”. Thánh nữ cũng dùng những phương tiện như đọc đoạn kinh thánh ngắn, cảnh đẹp của tự nhiên hay một bức tượng hoặc ảnh thánh để gợi nhắc ngài tập trung. Thánh nữ viết rằng nhờ thế tâm trí tự nhiên học được cách duy trì tập trung vào Thiên Chúa mà không phải cố gắng gì cả.

Theo độc giả macjoven, cách suy niệm này cũng được gọi là “Thực hành hiện diện với Chúa”. Tác phẩm này nổi tiếng với tên tuổi của vị tu sĩ thế kỷ 17, gọi là “Tu huynh Lawrence” và nó được phục hoạt cùng với sứ vụ loan báo Tin mừng vào đầu thế kỷ 20. Cách thức này gắn với việc đối thoại liên tục với Thiên Chúa, khởi đầu với 15 phút cho tới 1 tiếng, sau đó bạn có thể gợi nhớ lại Thiên Chúa trong tâm trí trong từng phút, và cho đến hết ngày. Kết quả, Thiên Chúa bắt đầu thấm nhuần vào trong tâm tư, tình cảm và hiểu biết của bạn. Chúng tôi khuyến nghị bạn đọc 2 bộ, một là bộ Practicing the Presence of God của Tu huynh Lawrence, và Letters from a Modern Mystic của Frank Laubach.

Cách thực hiện:

  • Bắt đầu bằng vài phút chiêm niệm cầu nguyện, hay đọc và suy niệm. Điều này sẽ làm cho tâm trí yên tĩnh và tập trung. Một cách nữa là có thể thực hiện vài phút đắm mình trong hít thở.
  • Sau khi kết thúc cầu nguyện với đọc Lời Chúa, tập trong vào sự quảng đại của Thiên Chúa, vào sự hiện diện của Thiên Chúa với tất cả tâm hồn, và tất cả tâm trí. Có thể bạn sẽ cảm thấy được bao bọc, với lời mời gọi “Đây, Ta là Đức Chúa!”. Chìm lắng vào trong sự thinh lặng một cách rộng mở.
  • Nếu có dòng tư tưởng hoặc cảm xúc nổi lên, gói nó vào trong dòng tĩnh tâm của bạn và dâng nó lên cho Thiên Chúa.

Cách khác, bạn có thể tập trung vào những chủ đề khác của đời sống Ki-tô Giáo, như cuộc khổ nạn của Đức Kit-tô, cảm xúc biết ơn, cảm xúc tôn sùng sự vĩ đại của Thiên Chúa, hay đơn là là cảm xúc yêu. Tu sĩ dòng Xi-tô cách tân James Finley bảo rằng “khi thở ra, nói trong thinh lặng “Con yêu Chúa” như diễn tả toàn bộ con người bạn là tình yêu dành cho Chúa. và khi bạn hít vào, hãy lắng nghe tiếng Chúa trong thinh lặng “Ta yêu Con”. Khi đó, bản chất của vòng vận hành này trở thành “Con yêu Chúa—Ta yêu Con”, thế là bạn đang ở lại trong sự hiện diện của Thiên Chúa.

Đừng sợ trải nghiệm và tìm kiếm điều đang hoạt động trong tâm hồn bạn.

Bởi vì chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi an lành; vì Ngài đến để cứu độ tôi. (TV 62:1)

Tình trạng này vẫn được các thần học gia gọi là “chiêm niệm trầm lắng”, “chiêm niệm tầng cao”, hay “chiêm niệm trực giác”. Đó là:

“một quà tặng siêu nhiên, nhờ đó tâm trí của một cá nhân trở nên hoàn toàn tập trung vào Thiên Chúa. Đó là một dạng thức kết hợp huyền nhiệm với Thiên Chúa, một sự kết hợp được xác định bởi sự kiện Thiên Chúa, và chỉ duy nhất Thiên Chúa, bày tỏ chính mình cho người ấy. Dưới ảnh hưởng của Thiên Chúa, đó là một sự hợp tác tự do của ý chí con người, trí năng nhận được soi sáng đặc biệt về những linh thể, cũng như có những tình cảm cực kỳ sống động với tình yêu thần linh. Sự kết hợp này có thể gắn kết với sự tỏ hiện của các thụ tạo, ví dụ như thị kiến về nhân tính của Đức Ki-tô hay về một thiên thần hay khải thị về một sự kiện tương lai v.v… Chúng gồm luôn cả các phép lạ hữu hình và đôi khi được xem như là một sự xuất thần.” (Wikipedia)

Chiêm niệm trầm lắng, theo Thomas Dubay, được mô tả như một “sản phẩm thần linh, chung chung không khái niệm, tình yêu nhận thức Thiên Chúa”, và là thứ sẽ thay dần khi việc cầu nguyện thông thường đạt tới sự tiến bộ.

4) TĨNH TÂM KIỂU CHIÊM NIỆM KI-TÔ GIÁO 

Xin cho lời từ miệng tôi và tâm hồn chiêm niệm của tôi khiến Ngài vui thoả, lạy Đức Chúa. (TV 19:14)

Tóm lại, chúng ta thấy rằng truyền thống Ki-tô Giáo có nhiều phương thế thực hành suy niệm như Suy niệm Lời Chúa và ảnh tượng. Chúng ta cũng tìm thấy những cách thực hành chiêm niệm, tương đồng với một số truyền thống Châu Á, như chiêm niệm cầu nguyện (tương tự mantra meditation) và chiêm niệm trực khải như “hiện diện với Chúa”. Cách thức sau dùng kiểu hoạt động trí năng để hồi tưởngtập trung, tương tự như thực hành pratyaharadharana trong Yoga (thấu triệt) và dhyana (thiền định), có khả năng dẫn đến tình trạng đốn ngộ xuất thần (samadhi).

Tuy sự hiểu biết vốn được dùng trong thiền định ở Á Châu, không nhất thiết phải gắn với một tín ngưỡng nào ở Đông Phương, có thể giúp cho bạn trở nên một Ki-tô hữu tốt hơn, và gần gũi hơn với Thiên Chúa. Nhưng kể ra cũng không nhiều cách thực hành tín ngưỡng có thể bao dung được mọi khía cạnh tôn giáo (bạn cần tín ngưỡng nào đó để tập trung vào hơi thở của bạn, đúng không?), đồng thời còn vì ý hướng và thế giới quan của tín ngưỡng luôn gắn liền với thực hành tín ngưỡng đó. Không nghi ngờ gì khi nói tĩnh tâm có thể giúp bạn chìm sâu vào việc kết hiệp với Thiên Chúa trong cầu nguyện.

Người đương đại thật vô phúc khi bị lây nhiễm bởi chứng căng thẳng thần kinh, điều khiến cho họ không thể nào yên. Nếu họ muốn cầu nguyện, họ phải học trở nên an tĩnh, câm lặng chính họ. – Anthony de Mello

Nếu bạn là một Ki-tô hữu thực hành, một khi bạn thực muốn thử nghiệm vài phương thế thực hành chiêm niệm Ki-tô Giáo hay vài loại tĩnh tâm nào đó, đời sống thiêng liêng của bạn sẽ được lợi lớn. Tĩnh tâm thường kỳ là vô giá để điều chỉnh cuộc đời theo ý Thiên Chúa, giảm bớt những đau khổ tự thân bạn gây ra, và theo đuổi giáo huấn “yêu thương người lân cận như chính mình”. Nó cũng là cách để kinh nghiệm về Thiên Chúa vượt qua những gì một bản ngã có thể nắm bắt và đạt được. Nó vượt qua tư duy, vượt qua trí nhớ, vượt qua ý chí, vượt qua cảm xúc. Đây là kinh nghiệm của rất nhiều tín hữu có tâm hồn rộng mở.

Theo Giovanni Dienstmann

Tóm tắt lịch sử thực hành tĩnh tâm theo…

Tĩnh tâm đã bắt đầu trở nên thực sự chính thống ngay tại bước ngoặt thiên niên kỷ này—nhưng chỉ có lác đác ít...
aibietcogito
15 min read

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *